http://vietbao.vn/Giao-duc/16-nam-gieo-chu-tren-doi-nang-go/30242493/225/
Được chống nạng đứng lớp mỗi ngày là niềm vui của cô giáo Huỳnh Thị Xinh.
“Các
con chép bài tập vào vở theo cô…” Tay chống nạng, tay rướn người cẩn thận
ghi từng con tính lớp 3 lên bảng, một ngày làm việc của cô giáo làng Huỳnh
Thị Xinh cứ đều đặn bắt đầu và kết thúc như thế đă 16 năm nay…
Nhọc nhằn những vết chân tṛn…
Mấy năm đi dân công tải đạn xuyên rừng đă để lại
trên người thanh niên Huỳnh Đức Thơm cái gọi là chất độc màu da cam. Và cô
Bảy Xinh, với đôi chân teo tóp ngay từ thuở lọt ḷng đă trở thành đứa con
duy nhất trong gia đ́nh hứng trọn di chứng chiến tranh từ cha.
Ngày những đứa trẻ cùng trang lứa chập chững
biết đi, Xinh chỉ biết lăn lóc nơi đầu giường. Lớn lên một chút, nh́n bạn bè
trong xóm tung tăng cắp sách đi học, cô bé Xinh cũng háo hức xin mẹ t́m mua
cho đôi nạng gỗ và tập vở làm hành trang đến lớp. “Đường làng ngày ấy toàn
là đất cát lồi lơm chứ đâu được trơn láng bê tông như chừ. Người thường đi
đă khó huống chi tàn tật như ḿnh” - cô giáo Xinh bồi hồi nhớ lại. Biết là
vậy, nhưng ngày lại ngày, bất kể mưa hay nắng, chiếc nạng gỗ vẫn nhọc nhằn
theo Xinh in từng vệt lơm sâu trên cát mỗi buổi đến trường.
Thời chiến tranh tên bay đạn lạc, gia cảnh khó
khăn, lại thêm mấy lần hai bàn chân sưng vù lên v́ phải đi đứng nhiều, có
lúc Xinh đă nghĩ đến chuyện thôi học. Nhưng ước mơ làm cô giáo làng từ hồi
c̣n nhỏ xíu cứ hiện về thôi thúc cô bé tật nguyền đeo đuổi con chữ đến cùng.
Lên cấp 3, đường đến trường dài ra thêm 3-4 cây
số, một ḿnh Xinh không thể chống nạng đi, về; nhất là trong những ngày mưa
hay giữa buổi trưa hè đổ lửa. Xinh quyết định ở lại nhà người quen ngay gần
trường để tiện cho việc học, khỏi phiền đến cha mẹ đưa đón. Bạn bè biết được
hoàn cảnh của Xinh, cứ đến cuối tuần lại t́nh nguyện chở cô bé về tận nhà
sum vầy với gia đ́nh.
Cuối năm lớp 12, Xinh đỗ tốt nghiệp với tấm bằng
loại khá. Niềm vui chỉ đến ngắn ngủi khi Xinh hay tin ḿnh không thể thi vào
trường ĐHSP v́ những quy định tuyển sinh ngặt nghèo khi ấy.
Muốn đeo đuổi ước mơ đến cùng, Xinh đă nghĩ đến
chuyện vượt đèo ra Huế thi vào ngành Ngữ văn của trường ĐH Tổng hợp (bây giờ
là ĐH Khoa học). Nhưng rồi, đàn gà và mảnh ruộng con con không đủ nuôi 10
miệng ăn huống ǵ cho con đi học xa, cha mẹ Xinh đành ngậm ngùi khuyên con
thi vào ĐH Ngoại ngữ cho gần nhà.
Ḱ thi năm ấy Xinh không đỗ. Cánh cổng trường
đại học khép lại, khép luôn cả ước mơ cháy bỏng của cô gái 20 tuổi tật
nguyền…
Hành tŕnh “đứng lớp” của cô giáo tật nguyền

Cô giáo Xinh cầm tay chỉ vẽ cho từng học tṛ nghèo “khát” chữ.
Một ngày cuối năm 1986, Xinh được Hội người
khuyết tật của những kiều bào ở Mỹ t́m đến trao tặng xe lăn cùng 2 suất học
Anh văn, vi tính miễn phí. Từ đây, đường đến lớp của cô gái khuyết tật đă
bớt chút nhọc nhằn nhờ những ṿng xe.
Đêm học, ngày giữ cháu phụ anh chị, hai năm sau,
Xinh sung sướng cầm chứng chỉ Anh văn, vi tính trên tay mà không ngăn được
ḍng nước mắt. Ước mơ làm “người đưa đ̣” khi ấy lại trỗi dậy mănh liệt trong
ḷng người con gái trẻ. Nhưng đôi chân tật nguyền lại kéo chị về với một
thực tế: “Người lành lặn không có bằng cấp người ta c̣n không nhận huống ǵ
ḿnh…”
Gấp lại mảnh bằng phổ thông và đôi chứng chỉ, cô
Bảy Xinh trở lại với nghiệp “giữ trẻ” phụ giúp gia đ́nh, ḷng vẫn không
nguôi ấp ủ ước mơ. Trong những ngày tháng cơ cực ấy, người ta vẫn thấy trên
xe lăn một cô gái tật nguyền tay bế em, tay lật từng trang sách ôn lại những
kiến thức thời c̣n đi học. Thỉnh thoảng chị lại chỉ vẽ cho con cháu vài ba
con tính, dăm bảy chữ tiếng Anh; dần dà kiêm luôn nhiệm vụ làm “gia sư” cho
bọn trẻ trong nhà. Bà con cḥm xóm thấy chị hay chữ, lại khéo dạy cũng đem
con đến nhờ kèm cặp. Ngày đó, dù nhiều người nài nỉ, cô Xinh “gia sư” vẫn
không chịu lấy một đồng, v́ “bà con ở đây đều nghèo như ḿnh cả, với lại
ḿnh cũng chẳng bằng cấp ǵ, dạy các em cũng là tranh thủ ôn lại mớ kiến
thức lâu ngày không dùng đến”.
Qua tay chị, từ đứa “một chữ bẻ đôi không biết”
đến những tṛ lớp 7, lớp 8 quanh năm “đội sổ” đều tiến bộ rơ rệt. “Tiếng
lành đồn xa”, học tṛ kéo đến chị ngày một đông. Được người nhà động viên,
chị lấy tạm một góc pḥng khách nhà cha mẹ đẻ, kê thêm tấm bảng đen và đôi
bộ bàn ghế làm nơi dạy học. Với con em những gia đ́nh nghèo khó, chị dạy
không lấy tiền hoặc giảm 50% số học phí vốn chỉ năm ba chục ngàn. Tṛ nào
ngoan, học giỏi, chị cũng sẵn sàng miễn hẳn tiền học để khuyến khích các em.
Lớp học chị Xinh cứ thế đầy dần lên, kín hết
“thời gian biểu” của chị, nhất là trong những ngày hè nắng rát. Rồi cũng đến
lúc một góc nhỏ trong căn pḥng chật hẹp không c̣n đủ cho đám học tṛ hiếu
học ở miền quê nghèo làm nơi đèn sách...
Năm 2002, cha mẹ chị dành dụm được số tiền kha
khá để sửa lại căn nhà cấp 4 vốn đă xập xệ từ nhiều năm trước. Thời gian ấy,
Hội chữ thập đỏ của phường và quận cũng hỗ trợ 5 triệu đồng giúp chị góp
thêm vào xây mới lớp học t́nh thưong ngay sát ngôi nhà cũ. Vậy là sau 10 năm
mày ṃ đem con chữ đến với học tṛ nghèo trên mảnh đất quê hương, cô giáo
tật nguyền, không bằng cấp đă có được một pḥng học thật sự, tuy chưa được
khang trang nhưng cũng đủ làm ấm ḷng cả tṛ cả cô…
Đến nay, lớp học của cô giáo Xinh (ở Tổ 10, Xuân
Thiều, Ḥa Hiệp Nam, TP Đà Nẵng) mỗi ngày đón trên dưới 100 tṛ, “cao điểm”
có thế lên đến 150 em, chủ yếu là trong ba tháng hè. Đứng lớp nhiều dưới cái
nắng gay gắt của trời miền Trung, đôi bàn chân teo quắt của chị có lúc sưng
tấy như thời c̣n chống nạng đi học. Thương con gái vất vả, mẹ chị đôi lần
khuyên con nhận ít học sinh lại, nhưng “biết làm sao được, các em ham học
mới t́m đến ḿnh, ḿnh không dạy các em biết dựa vào ai?”
Với chị, được chỉ dạy các em từng cái chữ, con
toán là niềm vui, niềm mơ ước cả một đời. Dù không một ngày ngồi trên giảng
đường sư phạm, nhưng với sự nhiệt t́nh và ḷng yêu nghề, cô giáo Xinh vẫn
ngày đêm đem kiến thức cùng những kinh nghiệm học hỏi từ những người bạn học
- nay đă là giáo viên các trường - truyền dạy cho trẻ em nghèo.
16 năm đi “gieo” chữ, học tṛ của chị nay có
người đă tốt nghiệp đại học, đi làm, thỉnh thoảng vẫn ghé về thăm hỏi người
cô tật nguyền năm xưa, như một cách để tri ân…
Huỳnh Linh
Việt Báo (Theo_DanTri)